Ba Loại Điền
Hòa Thượng Phổ Quang (Thích Thiện Huệ)

Bạch Hòa thượng.

Con từng nghe có vị giảng về phúc đức cúng dường, ca ngợi việc cúng dường Tam Bảo là chính, còn việc lo chúng sanh là phụ, vị ấy nói "Phước điền có 3 thứ là kính điền, phước điền và khổ điền. Khổ điền là bố thí cho người nghèo cùng... Phước điền là phụng sự sư trưởng và phụ mẫu, còn Kính điền là cúng dường Tam bảo thì cao nhất, vậy thì quý vị nên chọn cái nào ?". Con mong hòa thượng chỉ dạy để hành cho đúng với chính pháp.

A Di Đà Phật

Đáp:

Bố thí và cúng dường khác từ nhưng đồng nghĩa, nếu cho người dưới thì gọi là bố thí, nếu cho người trên thì gọi là cúng dường.

Khi chia làm ba loại điền (ruộng), đó là theo quyền pháp. Người thì có kẻ nam người bắc, kẻ sang người hèn, người dưng và quyến thuộc, nhưng Phật tính thì bổn vô sai biệt. Nên về mặt quyền pháp thì phân ba. Còn về thật pháp thì chỉ là một bình đẳng

Chúng ta sẽ phân tích cúng dường và bố thí thế nào thì có công đức vô lậu.

A. Phân tích về lợi và hại của pháp cúng dường bố thí theo quyền giáo hay thế tục đế.

1. Cúng dường theo quyền pháp chỉ được phúc đức hữu lậu (hữu hạn), vì ưu tiên cho tính toán lợi mình, sau đó mới quyết định cúng. Bởi tâm cúng không thật, tâm cầu lợi mới thật, như thế sự cúng sẽ bất tịnh nên chỉ có thiểu thiện căn phúc đức, thứ phúc hữu lậu không đáng kể và thuộc về nhân thiên phúc báo.

Đặt lợi mình lên trước sự cúng dường và bố thí, tâm ấy đã thuộc về bất tịnh. Công đức lại không bao giờ sánh đôi với tâm bất tịnh, thế nên tổ sư mới thẳng thừng đáp Vũ đế "không có công đức"(1). Câu nói này dấy lên thắc mắc cho những tâm hồn bất tịnh và quyền giáo, nhưng lại "dĩ nhiên là vậy" đối với người hiểu thật pháp.

2. Người tính toán làm thiện theo lợi cho bản thân, sẽ chọn phúc điền vì tình thân và kính điền vì lợi, họ sẽ bỏ qua khổ điền, và khổ điền sẽ thành cánh đồng hoang khô cằn, thiếu người giúp đỡ như đồng khô thiếu nước. Khổ điền còn bi thảm như thế hà huống súc sinh càng không được phóng sinh giải thoát.

Tôi đã nghe nhiều người bảo rằng thầy họ dậy "cho người nghèo không hơn thả chim cá sao?" Rồi lại đến lập luận "cúng chùa không hơn là cho dân nghèo à". Thế là phóng sinh bị cúp, bố thí bị cắt, bao nhiêu về chùa cả. Chùa vét sạch phúc mọn của súc sinh và khổ điền.

Nghĩ xem cách chọn cá kén canh trên cũng gián tiếp gây tổn hại cho khổ điền và súc sinh tất nhiên chịu tổn phúc phần nào. Vì vậy phúc báo có được chẳng là bao lăm.

3. Tăng ni duy trì chính pháp và gánh vác chúng sinh nên là tập thể bảo duy nhất trong mọi tập thể. Vì thế Tăng bảo được coi là hàng ứng cúng, tức đáng được cúng dường. Nhiệm vụ hoằng pháp (thâm nhập kinh tạng) độ sinh (thống lý đại chúng) thực là cao thượng, xứng đáng được tôn trọng, thế nhưng không phải ai cạo tóc vào chùa đều sẽ làm được. Nay nhiều vị đồng hóa phàm thánh với nhau, ai cũng như ai, nên cung kính cúng dường bình đẳng, mặc dù cao tăng thì hoằng pháp lợi sinh, phàm tăng thì thờ Phật ăn oản, hai việc làm không đồng, hai công đức cách biệt. Vì vậy kính điền thật sự là hàng thánh tăng, cao tăng vì các bậc này mới là bậc ứng cúng.

Nay chữ kính điền được sử dụng cho thánh phàm lẫn lộn, khiến cho các vị phàm cũng ngỡ mình là hàng kính điền, nghiễm nhiên thọ nhận cúng dường không chút "thổn kỉ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng"(2).

Có nhiều tăng nhân lý luận rằng hễ cạo tóc xuất gia đều là mạng mạch của chư Phật. Mạng mạch hay sư tử trùng (3)" chưa biết chừng. Không hiểu kính điền chân thật là những ai, mà dám đồng hóa thánh phàm với nhau là một lỗi hủy báng, lại khiến đám phàm ngộ nhận mình thật là mạng mạch của Như lai và đáng được ứng cúng, nên phạm vào lỗi tăng thượng mạn.

Suy ra sự chỉ dậy chọn lựa ba điền để hành có nhiều điểm tai hại. Hàng tại gia thì do tính toán cho bản thân, tăng trưởng tâm hám lợi nên sẽ không chu toàn "nguyện tu nhất thiết thiện", bỏ hết các việc cứu khổ cứu nạn như bố thí phóng sinh. Họ sẽ cúng kính điền bằng tâm bất tịnh vì lợi hơn vì kính.

Hàng xuất gia thì không trau giồi kỷ đức hạnh bằng "tu nhất thiết thiện" mà lo trau chuốt hình tướng bên ngoài với chuỗi dài chuỗi ngắn trên thân, vì họ biết tín chúng chỉ thấy oai nghi thân mà không nhận ra oai nghi tâm (4). Điều này cho thấy họ không thật hiểu kính điền nên tự cho mình là kính điền.

B. Tam điền với thật trí.

Thấy có ba điền để lựa chọn là quyền trí. Thấy có lợi nhiều ít để chọn là tà trí. Chỉ thấy có thiện pháp cần hành là thật trí thanh tịnh.

Nếu không có thật trí, không hiểu thật pháp, người ta dễ tạo phúc bằng cách gây họa, một lối u mê được suy nghĩ và hành động phổ biến khắp cõi Ta bà, cũng vì thế mà Ta bà chết tên "ngũ trược ác thế".

Muốn cho đồ chúng có công đức hãy dậy họ thanh tịnh tâm, thay vì dạy họ biết chọn lựa thứ nào phúc nhiều.

Làm mọi việc thiện với tâm thanh tịnh không vì lợi dưỡng bản thân như kinh Hoa nghiêm dạy : "bất vị tự thân cầu khoái lạc, đản vị cứu hộ chư chúng sinh" khoing vì sự lợi của bản thân, chỉ vì cứu giúp mọi chúng sinh.

Để dậy họ thanh tịnh tâm hãy nhắc nhở họ "nguyện tu nhất thiết thiện". Điền nào cũng cúng với tâm bình đẳng, có nghĩa tâm không thiên hướng về phúc nhiều ít, chỉ cúng vì đó là nghĩa vụ của tâm thanh tịnh. Nhờ vậy đạt được công đức cúng dường cả ba điền, thành tựu tu nhất thiết thiện và quan trọng hơn cả là tâm mỗi lúc mỗi thanh tịnh.

Nếu dậy dỗ đồ chúng nguyện tu nhất thiết thiện, bình đẳng cúng dường bố thí, thì hết thẩy chúng sinh được ân triêm, không ai bị thiệt hại, thế không phải là công đức mà các vị bồ tát thường làm đó sao?. Vì vậy tu nhất thiết thiện với tâm bình đẳng thanh tịnh chính là bồ tát đạo, con đường bồ tát đi.

Đức Phật thường dạy "phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật" đây là tổng tướng của 7 pháp cúng dường công đức viên mãn nhất của bồ tát Phổ Hiền. Cho dù đức Phật là đệ nhất bảo ứng cúng trong mười phương, nhưng ngài thường khuyên hành mọi việc lợi sinh mà không bảo đồ chúng thay vì bố thí phụng sự chúng sinh hãy chỉ cúng dường phục vụ ngài để có công đức nhiều hơn. Bởi đức Phật xuất hiện nơi đời vì đại nguyện cứu độ chúng sinh, không vì mục đích để cho chúng sinh cúng dường. Như lời ngài dạy trong Phật báo ân kinh "Như lai nhờ chúng sinh mới thành đạo, nên Như lai nguyện độ chúng sinh để trả ơn". Đức Phật còn tri ân chúng sinh, đệ tử Phật sao lại dám coi thường chúng sinh, thái độ coi thường chúng sinh là vô lễ với đức Phật.

Do đó cúng dường chư Phật với tâm cung kính, đừng cúng bằng tâm lợi dưỡng, hối lộ làm hoen ố tâm cúng dường thanh tịnh.

Đó là cúng dường bố thí theo thật pháp.

C. Sự khác biệt giữa thật và quyền giáo.

Để giúp cho mọi người sáng tỏ hơn giữa thật và quyền, chúng ta hãy so hai pháp này với nhau.

Không hàm nghĩa là tất cả.

Cúng dường là pháp bản (gốc) chỉ có một và là năng. Đối tượng cúng là ba điền và là sở. Pháp bản vốn Không tính và là bản, là gốc của cả ba điền, nên cả ba điền cũng không tính. Do năng sở đều không tính nên bình đẳng, như vậy xét từ bản pháp là thật trí mọi thứ đều bình đẳng, như thế thật trí nắm rõ từ bản đến thùy của nhất thiết pháp. Vì vậy nên kết luận Không (bản) cũng là nhất thiết (thùy).

Quyền trí nhận thấy mọi thứ thuộc phạm vi thùy đều khác nhau, nên khởi trùng trùng phân biệt, tác ý vọng tưởng, vọng hành vọng nghiệp, chiêu cảm đủ nghiệp báo khổ lạc. Quyền trí không những mê pháp tức mê sự do phân biệt mà cũng mê cả lý vô phân biệt của bản pháp. Thế nên quyền trí nhìn nhất thật hóa thành vô số sai khác.

Quyền trí chọn đối tượng (phân biệt pháp) để cúng nên còn gọi là phân biệt trí. Thật trí chọn "pháp bản" đồng với không chọn đối tượng nên thật trí còn gọi là vô phân biệt trí, hay nhất thiết trí.

Thật trí tuy là "pháp bản" vô phân biệt nhưng bình đẳng đối với các pháp phân biệt, do đó bình đẳng cúng dường nhất thiết đối tượng.

Không có nghĩa "là mọi thứ" nhưng "không là thứ nào".

Nếu hỏi bạn chọn điền nào trong ba điền? Người "chọn Không" sẽ đáp tôi không chọn điền nào, nhưng nếu khổ điền cần, tôi chọn khổ điền, nếu phúc điền cần, tôi chọn phúc điền, nếu kính điền cần, tôi chọn kính điền.

Như vậy không chọn chính là chọn tất cả, chọn tất cả nên là không chọn thứ nào. Đây là nghĩa của không. Nếu theo thế tục chọn một điền thì sẽ bỏ các điền kia.

D. Kết luận.

Tà trí dùng tâm lợi dưỡng cúng dường bố thí nên bất tịnh và không thật tâm hành thiện nên không phúc báo. Quyền trí dùng tâm trọng nhân không trọng pháp cúng dường đức Phật, nên công đức hữu lậu. Thật trí dùng tâm trọng pháp hơn trọng nhân cúng dường đức Phật nên công đức vô lậu (5). Bởi nhân (Phật) thuộc giả, pháp mới thật là Phật.

Công đức nhiều ít là do tâm có thanh tịnh và có thật tâm bố thí hay cúng dường không, mà không hẳn chỉ nhằm vào đối tượng nào còn tâm tịnh hay bất tịnh không quan trọng.

PVVT
Báo Ân 9.4.2021

Chú thích

(1). Vua Lương Vũ đế hỏi Đạt ma tổ sư "trẩm từ ngày lên ngôi báu đến giờ xây chùa tạo tượng, in kinh ấn tống, thiết trai cúng dường vô số, công đức có nhiều không?". Tổ sư đáp "không công đức gì hết".

Chúng ta đã hiểu vì sao, qua các bài giảng trước.

(2). Đây là quán thứ 2 trong ngũ quán, xét đức hạnh của bản thân có xứng đáng thọ nhận cúng dường hay không.

(3). Trong kinh A Nan thất mộng kể chuyện A Nan mộnng thấy sư tử chúa chết đi, các loài như kên kên, sói lang đều không dám tới gần, nhưng từ trong thân sư tử sinh ra loài trùng gặm nhắm xác. Sau khi nghe A nan kể, đức Phật nói "đó là điềm báo trước, sau khi Như lai diệt độ, tất cả ngoại đạo, ma vương đều không phá chính pháp được, chỉ có đệ tử ta mới hủy diệt chính pháp của ta được.

(4). Trong kinh Tâm địa quán đức Phật chê trách hàng thân tướng xuất gia nhưng tâm vẫn tại gia. Hàng này đã bị quở tất nhiên không thể là mạng mạch của Phật pháp được, đức Phật còn coi trọng và tán thán hàng tại gia nhưng tâm đã xuất gia hơn hẳn người xuất gia mà tâm tại gia.

(5). Phổ Hiền bồ tát nói "cúng dường theo pháp là hơn mọi thứ cúng dường".

Phụ lục 1

Ai cũng phải cày để sống và duy trì sự sống. Người may thì có ruộng để cày, phúc nhiều thì ruộng nhiều. Tăng nhân sở dĩ phúc nhiều là do gánh vác chúng sinh mà không hề do cạo tóc khoác cà sa. Phàm nhân kém phúc do chỉ biết gánh mình, khá chút thì gánh thêm quyến thuộc.

Hạnh phúc hơn nhau không ở tài sắc danh thực thùy những thứ thuộc thân, mà hạnh phúc là ở nơi tâm luôn an lạc.

Nói chung hạnh phúc tùy theo phúc nhiều ít, vì vậy ai cũng cầu phúc, nhưng phần đông không biết phúc được tạo ra qua hành động mà không tạo ra qua cầu xin.

Ai cũng dùng phàm trí suy luận làm sao cho có phúc nhiều, mà mấy ai hiểu được trí thanh tịnh không tham lam mới hướng dẫn hành động đến phúc lợi.

Phàm trí thấy có ba thửa ruộng, chọn một trong ba để cầy, vì vậy phàm nhân luôn là cùng tử nghèo nàn, có nhiều nhất là một thửa ruộng.

Thật trí thấy ba thửa ruộng như nhau, không cần kén chọn, bỏ này lấy kia, vì vậy thật trí có cả ba thửa ruộng để cày, nên luôn là trưởng giả phú hộ.

Chúng ta đã hiểu và sẵn sàng canh tác không bỏ rơi thửa nào trong ba thửa, để trở thành trưởng giả đại điền chủ.

PVVT
Báo Ân 1.5.2021

Phụ lục 2

Chữ cày tượng trưng cho lao lực nhọc nhằn. Còn gian lao nào hơn khi không phải cứ cày là có ăn, mà cày được phải cần đến thiên thời - địa lợi - nhân hòa, thiếu một trong ba thì không cày được. Đâu ai ngờ rằng cả ba yếu tố đó đều có sẵn đủ trong phúc. Vậy nên có phúc thì cày 1 ngày ăn một đời, thiếu phúc thì cày cả đời vẫn chẳng đủ ăn.

Bồ tát cày ruộng công đức, dùng tâm thanh tịnh lợi lạc muôn loài, nơi nào có hữu tình nơi ấy đều là ruộng phúc của bồ tát, thậm chí đến tam ác đạo là chỗ thảm họa của muôn loài không ai cày được, vẫn thuộc ruộng phúc của bồ tát. Vậy mới biết bồ tát là đại trưởng giả, phúc đức vô hạn, ruộng phúc của bồ tát, cò bay thẳng cánh đến tận vị lai cũng không đến biên tế được, cho đến cân đẩu vân của Tề thiên cũng không vượt thoát nổi. Đó là công đức vô lậu của bồ tát thật đại thừa.

Cày ra phúc mà hễ phúc thì an lạc, vì vậy bồ tát càng cày càng an lạc, muôn loài được triêm ân. Đó cũng là lý do vì sao bồ tát thường độc hành, thường độc bộ mà vẫn thường tinh tiến, không tự thối thất.

Phàm phu ngưỡng mộ tịnh độ, hẳn là vì tịnh độ luôn sẵn đủ thiên thời - địa lợi và nhân hòa, đó chẳng do Phật trời nào ưu đãi cho tịnh độ mà do nơi ấy tập hợp tòan bộ các nhà cày cuốc ruộng phúc ở ba đời mười phương kết thành một cõi công đức vô lậu.

Muốn tham gia hội tịnh độ phải là thành viên chuyên cày ruộng phúc, không nên mê tín ảo tưởng xin về đề ngồi không hưởng phúc, sự ngu si, tham lam, hung dữ không thể bén mảng tới cõi tịnh được.

Vì vậy Ôn chăm chỉ cày, nếu không sẽ chịu mệt mỏi với thế gian tham sân mê muội này.

Có can đảm vác cày ra mọi thứ ruộng sẽ cảm nhận được, thứ này không học trong sách vở hay qua kiến thức của người khác, mà phải tự trải nghiệm như thiền tông nói "lãnh noãn tự tri" nóng lạnh tự biết.

PVVT
Báo Ân 1.5.2021

Trở Lại Đầu Trang